Saag Là Gì – Phân Biệt Dịch Thấm Và Dịch Tiết | Bostonenglish.edu.vn

Phản ứng Rivalta là một xét nghiệm được thực hiện với các dịch chọc dò như dịch màng bụng, dịch màng phổi,… nhằm đánh giá một cách tương đối về lượng protein có trong dịch chọc dò, thông qua đó để nhận biết là dịch do phản ứng viêm hay dịch thấm thông thường. Qua đó gợi ý giúp bác sĩ chẩn đoán các bệnh liên quan đến gan, thận, phổi,… Vậy ý nghĩa cụ thể của xét nghiệm này như thế nào? Câu trả lời sẽ có ở bài viết dưới đây nhé. Mời bạn tham khảo!

phân biệt dịch thấm dịch tiết

phân biệt dịch thấm dịch tiết

Bạn đang xem: Saag Là Gì ?

Phản ứng Rivalta là gì?

Phản ứng Rivalta là một xét nghiệm nhằm xác định dịch chọc dò là dịch thấm hay dịch tiết. Mỗi loại dịch khác nhau sẽ là cơ sở giúp cho bác sĩ chẩn đoán các bệnh liên quan như viêm cầu thận cấp, hội chứng thận hư, nhiễm khuẩn, lao,…

Nguyên lý của xét nghiệm này đó là khi nhỏ dịch chọc dò vào trong một dung dịch bao gồm nước cất và acid acetic, protein có trong dịch sẽ kết tủa và xuất hiện vòng trắng đục như khói thuốc lá. Việc quan sát hiện tượng này xảy ra sẽ đánh giá kết quả dương tính hoặc âm tính từ đó xác định dịch thấm hoặc dịch tiết.

Bạn đang xem bài viết tại: https://bostonenglish.edu.vn/

Phân loại dịch chọc dò

Dịch chọc dò là dịch được lấy ra từ các khoang màng phổi, màng tim, khoang phúc mạc, dịch ở giữa các khớp. Thông thường tại vị trí có dịch sẽ xảy ra các phản ứng viêm. Dịch chọc dò thường được chia thành 2 loại đó là:

Dịch thấm 

Về cơ bản dịch thấm là dịch được tạo ra do sự chênh lệch áp lực trong lòng mạch và ngoài gian bào hoặc do giảm áp lực keo. Dịch thấm thường gặp trong các bệnh như suy thận, hội chứng thận hư, xơ gan có tràn dịch phúc mạc, suy tim, bỏng nặng,…

Hình 1: Dịch thấm thường gặp trong suy thận.

Dịch thấm thường có màu vàng nhạt, trong suốt, không có fibrinogen, có ít tế bào, nồng độ protein thường nhỏ hơn 30 g/ L. Bên cạnh đó, hàm lượng glucose trong dịch thấm tương đồng với hàm lượng glucose có trong huyết thanh.

Dịch tiết

Dịch tiết được tạo thành trong quá trình viêm của cơ thể và còn được biết đến với một tên khác là dịch rỉ viêm. Dịch này được hình thành một cách chủ động khi cơ thể có sự đáp ứng với các tác nhân gây viêm nhiễm. Cơ chế hình thành dịch tiết đó là giãn mạch giúp cho các protein đi vào gian bào. Do đó hàm lượng protein có trong dịch tiết thường cao trên 30 g/ L.

Ngoài ra trong dịch tiết còn chứa các bạch cầu đa nhân, fibrinogen và glucose thấp hơn so với trong huyết thanh. Dịch tiết thường gặp trong các trường hợp nhiễm khuẩn, ung thư, bệnh lao phổi,…

Bạn đang xem bài viết tại: https://bostonenglish.edu.vn/

Quy trình thực hiện phản ứng Rivalta

Bệnh phẩm để thực hiện xét nghiệm là các dịch chọc dò được lấy từ khoang màng phổi, màng tim, màng bụng, dịch khớp,… Mỗi loại dịch sẽ có một quy trình chọc hút riêng biệt và cần phải tuân thủ đúng theo các nguyên tắc vô trùng, tránh lây nhiễm vào bệnh phẩm.

Hình 2: Quy trình chọc hút dịch màng phổi.

Các mẫu dịch sau khi được lấy sẽ vận chuyển nhanh chóng về phòng xét nghiệm để tiến hành phân tích.

Sau đó chuẩn bị các vật dụng cần thiết cho quá trình xét nghiệm Rivalta như pipet nhỏ giọt, ống nghiệm sạch, cốc có mỏ chia sẵn vạch, bảng nền đen để quan sát kết tủa.

Về phần hóa chất sinh phẩm, cần phải chuẩn bị nước cất và dung dịch acid acetic. Lưu ý kiểm tra hạn sử dụng của hóa chất và cần đặc biệt cẩn thận trong quá trình sử dụng để tránh nguy hiểm.

Quy trình thực hiện phản ứng Rivalta như sau:

– Tiến hành ly tâm dịch chọc dò để thu lấy phần dịch trong phía trên đem đi xét nghiệm.

– Đổ khoảng 100 ml nước cất vào cốc có mỏ đã được chuẩn bị sẵn.

– Dùng pipet nhỏ giọt nhỏ 3 – 4 giọt acid acetic 10% vào cốc, khuấy đều dung dịch.

– Sử dụng một ống nghiệm sạch khác, đổ dung dịch vừa pha vào 2/3 ống.

– Dùng pipet nhỏ 1 giọt bệnh phẩm dịch vào ống nghiệm và quan sát trên bảng nền đen.

Đọc kết quả

Hình 3: Hiện tượng kết tủa của phản ứng Rivalta.

– âm tính: sau khi nhỏ dịch không thấy xuất hiện kết tủa trắng, dung dịch vẫn trong suốt như ban đầu chứng tỏ bệnh phẩm là dịch thấm. Lượng protein ở đây thấp dưới 30g/ L.

– Dương tính: sau khi nhỏ dịch thấy xuất hiện đám trắng đục kết tủa lơ lửng trong cốc nước giống như khói thuốc lá. Điều này chứng tỏ bệnh phẩm là dịch tiết và có hàm lượng protein cao trên 30g/ L.

Trên lâm sàng bác sĩ sẽ yêu cầu thực hiện phản ứng Rivalta khi nghi ngờ bệnh nhân mắc các bệnh lý viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn, hội chứng thận hư, suy thận, bệnh tim, xơ gan, nhiễm khuẩn, viêm, bệnh lao,…

Một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả mà bạn cần chú ý như:

– Dịch chọc dò cần phải được lấy đúng tiêu chuẩn, đảm bảo các quy tắc vô trùng, đặc biệt tránh không được lẫn máu.

– Dung dịch acid acetic phải được pha đúng tỷ lệ và sử dụng cẩn thận.

– Mọi thông tin hành chính của bệnh nhân và mẫu bệnh phẩm cần phải trùng khớp và đầy đủ.

See also  diligence là gì ? due diligence bao gồm những gì? | Bostonenglish.edu.vn

– Chú ý nên quan sát hiện tượng kết tủa trên bảng nền đen để dễ phát hiện hơn.

Bạn đang xem bài viết tại: https://bostonenglish.edu.vn/

Nguyên nhân

Tràn dịch màng phổi thường được phân loại

  • dịch thấm

  • dịch tiết

Phân loại tràn dịch dựa trên đặc điểm của dịch (xem bảng Tiêu chuẩn để xác định tràn dịch màng phổi dịch tiết). Cho dù là một bên hay hai bên, tràn dịch dịch thấm thường có thể được điều trị mà không cần đánh giá rộng, trong khi nguyên nhân của dịch tiết đòi hỏi phải làm sáng tỏ. Có rất nhiều nguyên nhân (xem bảng Nguyên nhân tràn dịch màng phổi).

Tràn dịch màng phổi dịch thấm được gây ra bởi sự kết hợp tăng áp lực thủy tĩnh và giảm áp lực keo huyết tương. Suy tim là nguyên nhân phổ biến nhất, theo sau là xơ gan với cổ trướng và do giảm albumin máu, thường là do hội chứng thận hư.

Tràn dịch màng phổi dịch tiết được gây ra bởi các quá trình tại chỗ dẫn đến tăng tính thấm mao mạch kết quả là xuất tiết ra dịch, protein, tế bào và các thành phần huyết thanh khác. Nguyên nhân rất nhiều; phổ biến nhất là viêm phổi, ung thư, tắc mạch phổi, nhiễm virut, và Lao.

Hội chứng móng tay màu vàng là một rối loạn hiếm gặp gây tràn dịch màng phổi mãn tính, phù bạch huyết và móng tay vàng loạn dưỡng – tất cả đều là hậu quả của rối loạn dẫn lưu bạch huyết.

Tràn dưỡng chấp màng phổi (chylothorax) là tràn dịch màu trắng sữa có triglycerides cao gây ra bởi chấn thương hoặc khối u tân sinh (thường là u lympho) gây tổn thương ống ngực tràn dưỡng chấp cũng xảy ra với hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên. tràn dưỡng chấp cũng xảy ra với hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên.

Tràn dịch giả dưỡng chấp (cholesterol hoặc giả dưỡng chấp) giống như tràn dưỡng chấp nhưng có ít triglycerides và có hàm lượng cholesterol cao. Tràn dịch giả dưỡng chấp được cho là do sự giải phóng cholesterol từ các hồng cầu và bạch cầu trung tính vỡ ra trong các tràn dịch kéo dài khi sự hấp thu bị chặn bởi màng phổi bị dày lên.

Tràn máu màng phổi là dịch máu trong khoang màng phổi (Hematocrit dịch màng phổi> 50% máu ngoại biên) do chấn thương hoặc, hiếm khi, do bệnh rối loạn đông máu hoặc sau khi vỡ mạch máu lớn như động mạch chủ hay động mạch phổi.

tràn mủ màng phổi là mủ trong khoang màng phổi. Tràn mủ màng phổi có thể xảy ra như một biến chứng của viêm phổi, phẫu thuật lồng ngực, áp xe (phổi, gan, dưới hoành), hoặc chấn thương thấu ngực với nhiễm trùng thứ phát. Tràn mủ màng phổi rò ra thành ngực là sự lan rộng ra mô mềm của mủ dẫn đến nhiễm trùng thành ngực và dẫn lưu ra ngoài.

Phổi treo là một phổi được bao bọc bởi một vỏ xơ do mủ hoặc khối u. Bởi vì phổi không thể nở, áp lực màng phổi trở nên âm hơn bình thường, làm tăng sự thấm dịch từ các mao mạch màng phổi lá thành. Dịch có đặc điểm là ranh giới giữa dịch thấm và dịch tiết; là dịch có các giá trị sinh hóa nằm trong khoảng 15% mức cutoff cho các tiêu chí của Light (xem bảng Các tiêu chí để xác định tràn dịch màng phổi dịch tiết).

Tràn dịch do thầy thuốc có thể là do di chuyển hoặc sai vị trí ống mở thông dạ dày vào trong khí quản hoặc thủng tĩnh mạch chủ trên sau đặt catherter tĩnh mạch trung tâm, dẫn đến sự dịch chuyển ống thức ăn hoặc dịch truyền tĩnh mạch vào khoang màng phổi.

Tràn dịch màng phổi không có nguyên nhân rõ ràng thường là do thuyên tắc phổi, lao hoặc ung thư. Nguyên nhân chưa được biết đến với khoảng 15% tràn dịch ngay cả sau khi nghiên cứu sâu rộng; tràn dịch này được cho là do nhiễm virut.

Bạn đang xem bài viết tại: https://bostonenglish.edu.vn/

Triệu chứng và Dấu hiệu

Một số tràn dịch màng phổi không có triệu chứng và được phát hiện bất thường trong quá trình khám sức khoẻ hoặc chụp X-quang ngực. Mức độ nhiều gây khó thở, đau ngực kiểu màng phổi hoặc cả hai. Đau ngực kiểu màng phổi, một sự khó chịu mơ hồ hoặc đau chói tăng lên khi hít vào, biểu thị sự viêm của màng phổi. Đau thường được cảm nhận rộng hơn vị trí viêm, nhưng có thể liên quan đến vị trí viêm. Các phần sau và ngoại vi của màng phổi cơ hoành được chi phổi bởi các dây thần kinh liên sườn dưới 6, và sự kích thích có thể gây đau ở thành ngực dưới hoặc bụng có thể giống các bệnh trong ổ bụng. Sự kích thích phần trung tâm của màng phổi cơ hoành, được thần kinh hoành chi phối, gây đau lan ra cổ và vai.

thăm khám thấy không có rung thanh, gõ đục, và rì rào phế nang giảm ở phía bên tràn dịch. Những dấu hiệu này cũng có thể được gây ra bởi dày màng phổi. Với tràn dịch nhiều, nhịp thở thường nhanh và nông.

Tiếng cọ màng phổi, mặc dù không thường xuyên, là dấu hiệu lâm sàng cổ điển. Tiếng cọ màng phổi là âm thanh liên tục có thể mô phỏng tiếng cọ xát để phát ra âm thanh, cùng với hô hấp, được nghe trong suốt khi hít vào và thở ra. Tiếng cọ màng phổi gần tim (cọ màng phổi màng ngoài tim) có thể thay đổi theo nhịp tim và có thể bị nhầm với tiếng cọ của viêm màng ngoài tim. Cọ màng tim được nghe rõ nhất qua đường viền trái của xương ức trong khoang liên sườn thứ ba và thứ tư, đặc trưng là âm thanh đến và đi đồng thì với nhịp tim, và không bị ảnh hưởng đáng kể bởi hô hấp. Độ nhạy và độ đặc hiệu của khám lâm sàng để phát hiện tràn dịch có thể thấp.

Chẩn đoán

  • X-quang ngực

  • Xét nghiệm dịch màng phổi

  • Đôi khi CLVT mạch hoặc các xét nghiệm khác

Sự có mặt của tràn dịch

Pleural Effusions—Small
Pleural_effusions_high_vi

ĐƯỢC SỰ CHO PHÉP CỦA NHÀ XUẤT BẢN. TỪ HUGGINS J, SAHN S. TRONG BONE’S ATLAS OF PULMONARY AND CRITICAL CARE MEDICINE. BIÊN TẬP BỞI J CRAPO. PHILADELPHIA, CURRENT MEDICINE, 2005.

Chụp X-quang ngực là xét nghiêm đầu tiên được thực hiện để xác nhận sự tồn tại của dịch màng phổi. X quang ngực thẳng nên được chỉ đinh khi nghi ngờ có tràn dịch màng phổi. Trên x-quang ngực thắng, 75 mL dịch làm mờ góc sườn hoành phía sau. Mờ của một bên góc sườn hoành thường đòi hỏi khoảng 175 mL, nhưng có thể nhiều đến 500 mL. Tràn dịch màng phổi nhiều làm mờ một bên lồng ngực và có thể gây đè đẩy trung thất; tràn dịch > 4 L có thể gây mờ hoàn toàn một bên lồng ngực và dịch chuyển trung thất sang bên đối diện.

Pleural Effusion—Large
Pleural_effusion_large_high_vi

ĐƯỢC SỰ CHO PHÉP CỦA NHÀ XUẤT BẢN. TỪ HUGGINS J, SAHN S. TRONG BONE’S ATLAS OF PULMONARY AND CRITICAL CARE MEDICINE. BIÊN TẬP BỞI J CRAPO. PHILADELPHIA, CURRENT MEDICINE, 2005.

Pulmonary Pseudotumor
Pulmonary_pseudotumor_high_vi

ĐƯỢC SỰ CHO PHÉP CỦA NHÀ XUẤT BẢN. TỪ HUGGINS J, SAHN S. TRONG BONE’S ATLAS OF PULMONARY AND CRITICAL CARE MEDICINE. BIÊN TẬP BỞI J CRAPO. PHILADELPHIA, CURRENT MEDICINE, 2005.

Tràn dịch khu trú là sự tập trung của chất lỏng bị kẹt giữa các màng phổi hoặc trong các vết nứt phổi. Chụp X quang ngực nghiêng, CLVt ngực, hoặc siêu âm nên được thực hiện nếu không rõ mật độ tia X thể hiện sự xâm nhập của chất lỏng hay nhu mô hay liệu các chất dịch nghi ngờ có khu trú hay tự do; các xét nghiệm này có độ nhạy cao hơn so với tia X thẳng đứng và có thể phát hiện lượng lượng dịch < 10 mL. Tràn dịch màng phổi khu trú, đặc biệt là ở rãnh liên thuỳ lớn và bé có thể bị nhầm với khối u phổi. Chúng có thể thay đổi hình dạng và kích thước với sự thay đổi vị trí của bệnh nhân và lượng dịch màng phổi.

CLVT không phải là chỉ định thường quy nhưng có giá trị để đánh giá nhu mô phổi bên dưới đối với thâm nhiễm hoặc khối u khi phổi bị che khuất bởi tràn dịch hoặc khi chi tiết trên chụp quang phổi không đủ để phân biệt dịch khu trú với một khối đặc.

Nguyên nhân tràn dịch

Chọc dò dịch màng phổi nên được thực hiện ở hầu hết các bệnh nhân có dịch màng phổi mà có độ dày  10 mm trên CT, siêu âm, hoặc chụp X quang và đó là tràn dịch mới hoặc chưa rõ nguyên nhân. Nói chung, những bệnh nhân không cần chọc dò là những người bị suy tim với tràn dịch màng phổi đối xứng và không đau ngực hoặc sốt; ở những bệnh nhân này, có thể dùng lợi tiểu, và tránh chọc dò trừ khi tràn dịch vẫn tồn tại  3 ngày.

Chọc dò dịch màng phổi và sau đó phân tích dịch màng phổi thường không cần thiết cho tràn dịch màng phổi mãn tính, có một nguyên nhân đã biết, và không gây triệu chứng.

Ngọc trai & Cạm bẫy

  • Mặc dù thường được áp dụng, không cần phải chụp lại X quang phổi sau khi chọc dò, trừ khi bệnh nhân có các triệu chứng cho thấy tràn khí màng phổi (khó thở hoặc đau ngực) hoặc trừ khi bác sĩ nghi ngờ không khí có thể đã vào khoang màng phổi trong suốt quá trình thực hiện thủ thuật.

Bất cứ khi nào có thể, chọc dò được thực hiện bằng cách sử dụng siêu âm dẫn đường, làm tăng lượng dịch lấy ra và giảm nguy cơ biến chứng như tràn khí màng phổi hoặc chọc thủng cơ quan trong ổ bụng.

Phân tích dịch màng phổi được thực hiện để chẩn đoán nguyên nhân tràn dịch màng phổi. Phân tích bắt đầu với nhìn màu sắc, có thể là

  • Phân biệt máu và dưỡng chấp (hoặc giả dưỡng chấp) với các tràn dịch khác

  • Xác định dịch mủ gợi ý chính xác tràn mủ màng phổi

  • Xác định dịch nhớt, đặc trưng của một số u trung biểu mô

Dịch nên luôn được làm xét nghiệm protein toàn phần, LDH, số lượng tế bào và các loại tế bào, nhuộm soi Gram và cấy các loại vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí. Các xét nghiệm khác (glucose, tế bào học, marker lao [adenosine deaminase hoặc interferon-gamma, amylase, vi khuẩn và nấm và nuôi cấy) được sử dụng trong các chẩn đoán lâm sàng thích hợp.

Phân tích dịch màng phổi giúp phân biệt dịch thấm và dịch tiết; nhiều tiêu chuẩn tồn tại, nhưng không có một tiêu chuẩn nào phân biệt hoàn toàn giữa hai loại. Khi các tiêu chí của Light được sử dụng (Xem bảng Tiêu chuẩn chẩn đoán tràn dịch màng phổi dịch tiết), LDH huyết thanh và nồng độ protein huyết thanh nên được định lượng càng gần vời thời gian chọc dò dịch màng phổi để so sánh với nồng độ trong dịch màng phổi. Các tiêu chí của Light xác định chính xác hầu hết tất cả các dịch tiết, nhưng xác định sai khoảng 20% thấm là dịch tiết. Nếu nghi ngờ tràn dịch màng phổi dịch thấm (ví dụ, do suy tim hoặc xơ gan) và không kết quả sinh hóa nào > 15% so với mức cắt của các tiêu chí của tiêu chuẩn Light thì sự khác biệt giữa huyết thanh và protein dịch màng phổi được đo. Nếu sự khác biệt là > 3,1 g/dL (> 31 g/L), bệnh nhân có khả năng tràn dịch màng phổi dịch thấm.

Chẩn đoán hình ảnh có thể có giá trị. Nếu chẩn đoán vẫn còn chưa rõ ràng sau khi phân tích dịch, chụp CT được chỉ định để tìm tắc mạch phổi, thâm nhiễm phổi, hoặc tổn thương trung thất. Tìm kiếm tắc mạch phổi để cân nhắc chỉ định cần dùng chống đông lâu dài; thâm nhiễm nhu mô, nhu cầu nội soi phế quản; và tổn thương trung thất, sự cần thiết phải chọc tế bào xuyên vách hoặc phương pháp soi trung thất. Tuy nhiên, chụp CLVT mạch máu đòi hỏi bệnh nhân giữ hơi thở  24 giây, và không phải tất cả bệnh nhân đều có thể tuân thủ. Nếu CLVT mạch không rõ ràng chẩn đoán, theo dõi là cách tốt nhất trừ khi bệnh nhân có tiền sử ung thư, sụt cân, sốt dai dẳng, hoặc những phát hiện khác gợi ý bệnh ung thư hoặc lao, trong trường hợp này nội soi lồng ngực có thể được chỉ định. Sinh thiết màng phổi có thể được thực hiện khi nội soi ngực không có. Nếu có màng phổi dày hoặc nốt màng phổi, sinh thiết dưới hướng dẫn siêu âm hoặc CLVT có thể giúp ích cho chẩn đoán.

See also  Ngữ pháp tiếng Anh lớp 5 Unit 11 What's the matter with you? - Tiếng Anh 5 Unit 11 What's the matter with you?| Ngữ pháp Unit 11 SGK tiếng Anh lớp 5 mới | Bostonenglish.edu.vn

Khi nghi ngờ viêm màng phổi do lao, nồng độ adenosine deaminase trong dịch màng phổi nên được định lượng. Mức độ> 40 U/L có độ nhạy và độ đặc hiệu 95% đối với chẩn đoán viêm màng phổi do lao.

Chẩn đoán tràn dịch màng phổi

Chẩn đoán tràn dịch màng phổi

* Dựa vào sự có mặt của sốt, giảm cân, tiền sử ung thư hoặc các triệu chứng gợi ý khác.

Điều trị

  • Điều trị triệu chứng và bệnh lý nền

  • Dẫn lưu màng phổi nếu có triệu chứng

  • Các phương pháp điều trị khác cho tràn dịch màng phổi cận việm phổi và ác tính

Tràn dịch màng phổi thường không yêu cầu điều trị nếu nó không có triệu chứng do tràn dịch tái hấp thu tự phát khi rối loạn cơ bản được điều trị, đặc biệt là tràn dịch do viêm phổi không biến chứng, thuyên tắc phổi hoặc phẫu thuật. Đau do viêm màng phổi thường có thể được kiểm soát bằng thuốc chống viêm không steroid (NSAID) hoặc các thuốc giảm đau đường uống khác. Đôi khi cần phải thuốc opioid uống trong thời gian ngắn.

Chọc tháo dịch màng phổi là phương pháp điều trị hiệu quả cho tràn dịch màng phổi nhiều triệu chứng và có thể được lặp lại với tràn dịch tái phát. Không có giới hạn cụ thể nào cho lượng dịch có thể tháo ra ( 1). Tháo dịch có thể được tiếp tục cho đến khi dịch dẫn lưu hết hoặc khi bệnh nhân bệnh nhân xuất hiện đau ngực, hoặc ho dữ dội.

Tràn dịch có thể mạn tính, tái phát và gây ra triệu chứng có thể được điều trị bằng gây dính màng phổi hoặc dẫn lưu gián đoạn với ống thông). Tràn dịch gây ra bởi viêm phổi và ung thư có thể cần các biện pháp bổ sung cụ thể.

Tràn dịch màng phổi cận viêm phổi và mủ màng phổi

Ở bệnh nhân có các yếu tố tiên lượng xấu (pH < 7,20, glucose < 60 mg/dL (<3,33 mmol/l),=”” nhuộm=”” gram=”” dương=”” tính=”” hoặc=”” nuôi=”” cấy,=”” khu=”” trú),=”” tràn=”” dịch=”” nên=”” được=”” dẫn=”” lưu=”” hoàn=”” toàn=”” qua=””>chọc tháo dịch hoặc là ống dẫn lưu qua thành ngực. Nếu không thể dẫn lưu, thuốc tiêu sợi huyết (thuốc kích hoạt plasminogen mô 10mg) cộng với một DNAse (ví dụ dornase alfa 5 mg) trong dung dịch muối 100mL có thể được tiêm vào khoang màng phổi hai lần một ngày trong 3 ngày. Nếu cố gắng dẫn lưu không thành công, cần thực hiện nội soi lồng ngực để bóc dính và loại bỏ các mô xơ bao phủ bề mặt phổi để cho phổi nở ra. Nếu nội soi ngực không thành công, mở lồng ngực với phẫu thuật bóc vỏ màng phổi là cần thiết (ví dụ như tháo bỏ sẹo, cục máu đông, hoặc màng xơ bao quanh phổi).

Tràn dịch màng phổi ác tính

Nếu khó thở gây ra bởi tràn dịch màng phổi ác tính có thể được giảm do chọc tháo, tuy nhiên với dịch và khó thở tái phát, mãn tính dẫn lưu và gây dính màng phổi nên được chỉ định. Tràn dịch màng phổi không triệu chứng và tràn dịch màng phổi gây ra khó thở giảm bởi chọc tháo không cần yêu cầu thêm thủ thuật.

Catherter dẫn lưu nằm trong thành ngực là cách tiếp cận ưa thích cho bệnh nhân ngoại trú vì việc nhập viện không cần thiết cho việc đặt catheter và dịch màng phổi có thể được dẫn lưu liên tục bằng các bình chân không. Gây dính được thực hiện bằng cách bơm chất gây dính vào khoang màng phổi để dính màng phổi thành và màng phổi tạng và loại bỏ khoảng cách giữa hai lá. Các chất gây dính có hiệu quả nhất và thường được sử dụng là bột talc, doxycycline, và bleomycin được bơm qua ống dẫn lưu hoặc nội soi. Gây dính là chống chỉ định nếu trung thất đã chuyển sang phía của tràn dịch hoặc nếu phổi không nở sau khi đặt ống dẫn lưu.

Tạo đường thông chuyển dịch màng phổi xuống phúc mạc rất hữu ích cho những bệnh nhân tràn dịch màng phổi ác tính, ở bệnh nhân gây dính màng phổi không thành công và ở những bệnh nhân bị phổi không nở.

PHẢN ỨNG RIVALTA

1. Tổng quan.

Dịch chọc dò là các dịch được lấy ra từ các dịch màng phổi, màng tim, dịch khoang phúc mạc hoặc dịch tràn từ các khớp lớn. Người ta thường phân biệt thành 2 loại là dịch thấm và dịch tiết.

Dịch thấm gặp trong các trường hợp thận hư, xơ gan có tràn dịch phúc mạc, suy tim. Tràn dịch là hiện tượng do nguyên nhân cơ học gây nên và huyết thanh thấm vào đó. Dịch thấm thường có màu vàng chanh, trong suốt, protein thường dưới 25 g/l và có nồng độ glucose như trong huyết thanh, không có fibrin và tế bào chỉ thấy lẻ tẻ.

Dịch tiết được tạo ra trong quá trình viêm, nhiều bạch cầu đa nhân, có thể có hồng cầu và vi khuẩn, nhiều fibrin, nông độ protein thường trên 25 g/l còn glucose thấp hơn trong huyết thanh. Dịch tiết thường do nguyên nhân nhiễm khuẩn, lao, ung thư

2. Kết quả:

Phản ứng Rivalta dương tính : dịch tiết. Nguyên nhân do lao, ung thư, nhiễm khuẩn.
Phản ứng Rivalta âm tính: dịch thấm. Nguyên nhân do suy tim, xơ gan, thận hư.

Bostonenglish.edu.vn cũng giúp giải đáp những vấn đề sau đây:

  • Rivalta dương tính là gì
  • Tiêu chuẩn Light dịch thấm dịch tiết
  • Dịch tiết là gì
  • Dịch thấm dịch tiết màng phổi là gì
  • Phản ứng Rivalta
  • Dịch thấm là gì
  • Xét nghiệm dịch màng phổi
  • Phản ứng Rivalta dịch màng phổi dương tính
See more articles in the category: Wiki

Leave a Reply