Trong tác phẩm một người Hà Nội, vì sao tác giả Nguyễn Khải lại gọi nhân vật bà Hiền là hạt bụi vàng của Hà Nội? Em hãy giải thích điều đó – Bài văn mẫu lớp 12 | Bostonenglish.edu.vn

Bài văn mẫu lớp 12

chi tiết làm nên bụi vàng của tác phẩm

chi tiết làm nên bụi vàng của tác phẩm

Văn mẫu lớp 12: Trong tác phẩm một người Hà Nội, vì sao tác giả Nguyễn Khải lại gọi nhân vật bà Hiền là hạt bụi vàng của Hà Nội? Em hãy giải thích điều đó được VnDoc.com tổng hợp và sưu tầm gồm các bài văn mẫu lớp 12 hay dành cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết môn Ngữ văn 12 sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo.

1. Dàn ý vì sao tác giả Nguyễn Khải lại gọi nhân vật bà Hiền là hạt bụi vàng của Hà Nội?

A, Mở bài

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề cần giải quyết: Giải thích vì sao Nguyễn Khải lại gọi bà Hiền là hạt bụi vàng trong tác phẩm Một người Hà Nội

B, Thân bài

Nói đến hạt bụi, người ta nghĩ đến vật nhỏ bé, tầm thường và chẳng ai để ý. Nhưng có điều nó lại là hạt bụi vàng thì dù nhỏ bé nhưng có giá trị quí báu. Cô Hiền là một người Hà Nội bình thường nhưng cô thấm sâu những cái tinh hoa trong bản chất người Hà Nội.

Luận điểm 1: Bà hiền qua việc thu xếp việc nhà

– Việc hôn nhân: Là phụ nữ có nhan sắc, yêu văn chương, thời con gái giao du với nhiều văn nhân nghệ sĩ nhưng không chạy theo những tình cảm lãng mạn viển vông, bà Hiền “chọn bạn trăm năm là một ông giáo cấp tiểu học hiền lành, chăm chỉ, khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc”. Người ta kinh ngạc vì nghĩ theo thói thường, còn bà Hiền lại vượt qua thói thường ấy. Bà không ham danh, không cơ hội, sự tính toán, chọn lựa của bà cho thấy bà có thái độ nghiêm túc với hôn nhân, đặt trách nhiệm “làm vợ”, “làm mẹ” lên trên mọi thú vui khác. Ông giáo tiểu học (mẫu người mô phạm, khiêm nhường) hiền lành, chăm chỉ là người thích hợp với quan niệm của bà về tổ ấm gia đình.

– Việc sinh con: ở cái thời người Việt Nam thích đẻ nhiều con thì quyết định của bà Hiền chấm dứt sinh đẻ vào năm bốn mươi tuổi cũng là một quyết định khác người. Bà không tin “Trời sinh voi trời sinh cỏ” mà bà tin con cái phải được nuôi dạy chu đáo để chúng “có thể sống tự lập”. Như vậy, trách nhiệm làm cha mẹ không phải chỉ ở việc sinh con mà quan trọng hơn là cho con một nhân cách, chuẩn bị cho con một tương lai sống, không bị lệ thuộc. Tình yêu con của bà Hiền là tình yêu sáng suốt của người mẹ giàu tự trọng, biết “nhìn xa trông rộng”.

– Việc quản lí gia đình: bà Hiền luôn luôn là người chủ động, tự tin vì bà hiểu rõ vai trò quan trọng của người vợ, người mẹ. Khi phê bình thói “bắt nạt vợ” quá đáng của người cháu, bà bảo: “Người đàn bà không là nội tướng thì cái gia đình ấy cũng chả ra sao”. Quan niệm về “bình đẳng nam nữ” của bà xuất phát từ thiên chức của phụ nữ – đấy là một chân lí tự nhiên, giản dị.

– Việc dạy con: bà Hiền dạy con là phải dạy khi chúng còn nhỏ và dạy từ những cái nhỏ nhất. Bà dường như không coi chuyện ngồi ăn, chuyện cầm bát, cầm đũa, múc canh, v.v. đó cũng chỉ là chuyện sinh hoạt vặt vãnh mà coi đấy là văn hoá sống, văn hoá người, hơn thế, đấy là văn hoá của người Hà Nội: “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, không thể sống tuỳ tiện, buông tuồng”. Cái “chuẩn” trong suy nghĩ của bà là “lòng tự trọng”. Lòng tự trọng không cho phép con người sống hèn nhát, ích kỉ cá nhân. Bà bằng lòng và cho Dũng đi chiến đấu vì “không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè”. Bà cũng đã lại chấp nhận khi đứa em Dũng muốn tiếp bước anh: “… bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó”. Con người một khi đã đánh mất lòng tự trọng thì cũng coi như­ chết về nhân cách. Có lòng tự trọng sẽ có lòng yêu nước, có ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Có thể nói, với những người như­ bà Hiền, lòng yêu nước cũng là một nhu cầu tự nhiên, xa lạ với những gì ồn ào, giả tạo.

Câu trả lời của bà Hiền “Tao đau đớn mà bằng lòng…” đã diễn tả đầy đủ mà ngắn gọn những giằng xé âm thầm giữa tình yêu con với tình yêu nước, giữa nỗi lo âu với ý thức về danh dự. Không bà mẹ nào muốn con gặp hiểm nguy, gian khổ, nhưng cũng không bà mẹ nào muốn thấy con phải sống đớn hèn, nhục nhã. Bà Hiền tôn trọng danh dự của con, hiểu con nên chấp nhận để con đi chiến đấu, nhưng bà không che giấu nỗi đau lòng, không vờ vui vẻ ồn ào. Với bà, đây là quyết định khó khăn nhưng hợp lí nhất. Qua chi tiết này, tác giả muốn khẳng định cá tính và bản lĩnh của bà Hiền: không tạo uy tín, danh dự bằng lời nói không thành thực, luôn dám là mình.

Bà tin và sự trường tồn của hóa Hà Nội: kể lại chuyện cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn bị bão đánh bật rễ rồi lại hồi sinh.

Như vậy, bà Hiền là người có bản lĩnh, trung thực, giàu tự trọng. Những phẩm chất đó được nhào nặn từ truyền thống gia đình, từ năng lực tự ý thức, từ kinh nghiệm sống mà bà đúc rút được trong chính cuộc sống đời thường của một người vợ, người mẹ, và đó là “người Hà Nội”. Tình yêu Hà Nội ở bà không hời hợt hay cảm tính mà sâu sắc vì nó gắn với một niềm tin: Hà Nội là chuẩn mực về văn hoá của người Việt. Mỗi công dân Hà Nội phải có ý thức giữ gìn và phát huy chuẩn mực đó.

Luận điểm 2: Bà Hiền và văn hóa Hà Nội

Còn với người như bà Hiền, người đọc có thể nhận ra nhiều nét đẹp trong lối sống. Nói “lối sống” là nói đến quan niệm, nguyên tắc làm cơ sở cho những ứng xử có ý thức của con người. Qua việc làm và suy nghĩ của bà Hiền, có thể thấy nổi lên bản lĩnh một con người luôn luôn dám là mình: là mình khi đề cao lòng tự trọng, là mình trong quan hệ với cộng đồng, đất nước, là mình trong những chiêm nghiệm lẽ đời,… Đặt tên truyện là “Một người Hà Nội”, có lẽ tác giả muốn khắc đậm bản lĩnh, cốt cách của người Hà Nội, họ luôn “là mình” với ý thức là “người Hà Nội”, là sự đại diện
cho cả nước, là tinh hoa (“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài – Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” – ca dao). “Chất Hà Nội” ở bà Hiền biểu lộ qua nét văn hoá lịch lãm, sang trọng (phòng khách của bà như­ l­uư giữ cái hồn Hà Nội: cổ kính, quý phái và tinh tế mà “suốt mấy chục năm không hề thay đổi”), qua thái độ ung dung, tự tại (trước những biến động bên ngoài, trước lời nhận xét “hơi nghiệt” của người cháu), qua sự khôn ngoan, sâu sắc của trí tuệ (bà nói về luật tự nhiên, về niềm tin: Hà Nội “Thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho mọi lứa tuổi”). Bà “khiêm tốn và rộng lượng”, bà hoà mình vào cảnh sắc Hà Nội “trời rét, mưa rây lả lướt chỉ đủ làm ẩm áo chứ không làm ướt”, bà đang lau chùi cái bát cổ để cắm hoa thuỷ tiên,… Sự hài hoà đó là cái duyên riêng Hà Nội, nét quyến rũ của Hà Nội khiến người xa Hà Nội luôn luôn nhớ về và phải kêu thầm lên “thấy tết quá, Hà Nội quá, muốn ở thêm ít ngày ăn lại một cái tết Hà Nội”.

Bạn đang xem bài viết tại: https://bostonenglish.edu.vn/

C, Kết bài

Trong “Một người Hà Nội”, Nguyễn Khải đã có những khám phá sâu sắc về bản chất của nhân vật trên dòng lưu chuyển của hiện thực lịch sử: Là một con người, bà Hiền luôn giữ gìn phẩm giá người, Là một công dân, bà Hiền chỉ làm những gì có lợi cho đất nước. Là một người Hà Nội, bà đã góp phần làm rạng rỡ thêm cái cốt cách, cái truyền thống của một Hà Nội anh hùng và hào hoa- tôn thêm vẻ đẹp thanh lịch quyến rũ của “người Tràng An”.Chất nhân văn sâu sắc của ngòi bút Nguyễn Khải chính là ở đó.

2. Tác giả lại gọi nhân vật bà Hiền là hạt bụi vàng của Hà Nội, em hãy giải thích điều trên

Nguyễn Khải là nhà văn mà tài năng và tên tuổi đã được khẳng định trong văn học Việt Nam hiện đại. Tác giả nhạy bén với những vấn đề thời sự xã hội và có khả năng phân tích tâm lí nhân vật sắc sảo. Ở giai đoạn đổi mới của đất nước, ông đặc biệt quan tâm đến đời sống tinh thần và số phận cá nhân trong cuộc sống đời thường. Giọng văn Nguyễn Khải đôn hậu, trầm lắng, nhiều chiêm nghiệm về những triết lý nhân sinh. Truyện ngắn Một người Hà Nội sáng tác năm 1990 phát hiện vẻ đẹp trong chiều sâu tâm hồn, tính cách của người Việt Nam qua bao biến động thăng trầm của đất nước ; đồng thời thể hiện cảm nhận của tác giả về những nét đáng quý của người Thủ đô, thông qua nhân vật cô Hiền, một người họ hàng xa mà ông trân trọng gọi là hạt bụi vàng của Hà Nội.

See also  Cách viết và cân bằng phương trình hoá học | Bostonenglish.edu.vn

Tác giả với vai trò là người cháu họ xa đứng ra kể chuyện về cô Hiền. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình khá giả, cô Hiền có lối sống của tầng lớp trung lưu ở Hà Nội vào thời kì miền Bắc chưa giải phóng. Chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội thế giới đã chấm dứt gần trăm năm đô hộ của thực dân Pháp, mở ra một trang sử mới cho đất nước Việt Nam. Nhân dân miền Bắc nô nức, hăng hái bắt tay vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cuộc sống sau chiến tranh thật gian nan, thiếu thốn. Vì thế mà cô Hiền phải tìm cách để thích nghi dần dần với chế độ mới. Cô vốn khéo tay nên đã chọn nghề làm hoa giấy và mở cửa hàng bán tại nhà. Theo cô thì cái nghề này không giàu nhưng cũng đủ ăn: Hoa làm rất đẹp, bán rất đắt, nhưng chịu thuế rất nhẹ, chỉ có một mình cô làm, các con thì chạy mua vật liệu, hoặc làm giúp phần cuống lá vào dịp Tết ta và Tết tây…

Người cháu tức tác giả khách quan nhận xét là cô khôn hơn các bà bạn của cô và cũng thức thời hơn chồng. Cô biết trong chế độ mới, việc gì làm được, việc gì không làm được nên đã khuyên chồng không nên mua máy in vì sẽ bị quy là thành phần tư sản. Cô Hiền đảm đang, tháo vát và rất có ý thức về vai trò của người vợ trong gia đình. Cô bảo với người cháu: …Người đàn bà không là nội tướng thì cái gia đình ấy cũng chả ra sao. Việc giáo dục con cái vào nề nếp được cô rất quan tâm: Khi các con còn nhỏ, ngồi vào bàn ăn, cô thường chú ý sửa chữa cách ngồi, cách cầm bát cầm đũa, cách múc canh, cả cách nói chuyện trong bữa ăn, Cô vẫn răn lũ con tôi: “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không được sống tuỳ tiện, buông tuồng”. Có lần, người cháu tranh luận với cô về cách dạy dỗ lớp trẻ. Chúng tôi là người của thời loạn, các cụ lại bắt dạy con cái theo thời bình là khó lắm. Cô ngồi ngẩn ra một lúc, rồi bảo: “Tao chỉ dạy chúng nó biết tự trọng, biết xấu hổ, còn sau này muốn ra sao là tùy”. Theo cô thì lòng tự trọng là cơ sở của đạo đức, nó chi phối mọi suy nghĩ, hành động và làm nên giá trị, danh dự của mỗi con người.

người hà nội

Sự trung thực, lòng tự trọng và bản lĩnh cứng cỏi của cô Hiền khiến người cháu cảm phục. Khi cuộc chiến tranh chống Mĩ đến thời điểm gay go, ác liệt, anh con trai lớn của cô tình nguyện vào Nam chiến đấu. Người cháu hỏi cô: “Cô bằng lòng cho em đi chiến đấu chứ?” Cô trả lời: “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè. Nó dám đi cũng là biết tự trọng”. Anh Dũng vào chiến trường, ba năm liền gia đình không nhận được tin tức gì, đứa em kế lại làm đơn xin tòng quân. Người cháu lại hỏi: Cô cũng đồng ý cho nó đi à? Cô trả lời buồn bã: “Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó… Tao cũng muốn được sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả hoặc chết cả, vui lẻ thì có hay ho gì”.

Đạo lí truyền thống là nền tảng giúp cô Hiền có thể sống tốt, sống đẹp ở mọi thời, trong mọi mối quan hệ gia đình và xã hội. Cô Hiền khôn ngoan mà tự trọng, thức thời mà chu đáo, linh hoạt là trung thực, đôn hậu mà bản lĩnh, đảm đang trọn vẹn cả việc nước lẫn việc nhà. Tính cách cô Hiền vừa có những nét đặc trưng của người Hà Nội gốc, vừa có phẩm chất chung của người Việt Nam; giản dị mà lịch lãm, thiết thực mà sang trọng, cần mẫn mà tài hoa, chân thực mà tinh tế, sâu sắc, Ngày thường, cô ăn mặc g
iản dị như bao phụ nữ khác, nhưng trong bữa tiệc mừng con trai lớn bình yên trở về sau chiến tranh, cô Hiền xuất hiện trước khách mời như diễn viên trên sân khấu, lược giắt trâm cài hoa hạt lấp lánh… Trong niềm vui đoàn tụ của cô còn có niềm tự hào to lớn của một người mẹ có đứa con xứng đáng với gia đình, xã hội vì đã làm tròn bổn phận công dân đối với đất nước.

Đất nước mở cửa được dăm năm, đời sống vật chất đã sung túc hơn hẳn thời bao cấp. Nhiều người giàu lên nhanh chóng nhờ thích ứng với cơ chế thị trường. Cách nghĩ, cách sống, cách ứng xử của người Hà Nội lúc này cũng thay đổi đáng kể. Sau một thời gian dài chuyển vào Nam sinh sống, người cháu, tức tác giả ra Hà Nội công tác và đến thăm cô Hiền. Lúc này, cô Hiền đã ngoài bảy mươi tuổi nhưng vẫn là người của hôm nay, một người Hà Nội của hôm nay, thuần túy Hà Nội, không pha trộn. Ngắm cô Hiền đang chăm chú lau đánh cái bát bày thủy tiên, người cháu thấy Tết quả, Hà Nội quả, muốn ở thêm ít ngày ăn lại một cái Tết Hà Nội. Quả là cô Hiền vẫn cố gắng gìn giữ những gì là tinh hoa trong nếp sống thanh lịch của người Hà Nội. Trong suy nghĩ của cô Hiền, Hà Nội thời nào cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho một lứa tuổi. Hà Nội đã thực sự trở thành máu thịt, thành không gian sống gắn bó với cô suốt cả cuộc đời.

Tác giả đã bỏ công phu tìm hiểu, phân tích chiều sâu đời sống tâm hồn của cô Hiền để rồi bất chợt nảy ra một hình ảnh so sánh vô cùng thú vị: cô Hiền là hạt bụi vàng của Hà Nội. Đây là sáng tạo nghệ thuật chứa đựng nhiều ý nghĩa. Hạt bụi vàng là hình ảnh một sự vật nhỏ bé, khiêm nhường mà đẹp đẽ, quý báu. Nhưng nhiều hạt bụi vàng hợp lại sẽ thành ánh vàng chói sáng. Đó là phẩm giá, là bản sắc truyền thống của người Hà Nội nghìn năm văn hiến.

Hạt bụi vàng là ẩn dụ nghệ thuật đặc sắc có ý nghĩa khái quát cao, thể hiện thái độ trân trọng và tự hào của tác giả đối với nhân vật của mình. Nguyễn Khải cô đúc toàn bộ phẩm chất tốt đẹp của nhân vật vào một hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng: Một người như cô phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hay mượn gió mà bay lên cho đất kinh kỳ chói sáng những ảnh vàng! Nhân vật cô Hiền đã chiếm được thiện cảm của người đọc qua cách kể chuyện, miêu tả tự nhiên, linh hoạt và tinh tế của tác giả. Đọc tác phẩm, chúng ta hiểu thêm về tính cách thanh lịch, hào hoa của con người và lối sống Hà Nội, từ đó càng yêu mến, tự hào về Thủ đô – trái tim của Tổ quốc Việt Nam yêu dấu.

Bài làm chi tiết

Đề bài:

“Chi tiết làm nên bụi vàng của tác phẩm” (Pauxtopxki). Trình bày suy nghĩ của anh, chị về ý kiến trên?

Bài làm

“Tình tự quá, thiêng liêng êm ái quá
Thơ ở đâu thong thả xuống đường mưa
Những hoa quý tỏa hương vương giả
Mây đa tình, như thi sĩ đời xưa…”

(Tình mai sau – Xuân Diệu)

Phải chăng, tự bao giờ, người ta luôn bằng lòng với quan niệm: Nghệ sĩ suốt đời săn tìm cái đẹp và chỉ đi tìm cái đẹp? Văn chương luôn bắt nguồn từ một men say, một tia chớp lóe sáng, một mạch nước ngầm âm ỉ tự bao giờ? Mỗi tác phẩm phải mở ra một hình sắc riêng, một cảm xúc riêng về cuộc sống. Say mê trong khu vườn ngôn từ, đôi khi tôi băn khoăn tự hỏi: Điều gì trước hết làm nên sức hấp dẫn của một tác phẩm? Tìm gặp ý kiến của Pauxtopxki, tôi đã có được lời giải đáp cho chính mình: “Chi tiết làm nên bụi vàng của tác phẩm”

Văn chương tự bao giờ đã làm bạn với những niềm vui và nỗi buồn của con người? Chỉ biết rằng trên hành trình kiếm tìm, vươn đến nghệ thuật, người nghệ sĩ luôn mang đến một định nghĩa, một chuẩn mực về văn chương. Văn chương là thứ bùa màu nhiệm và bí ẩn có sức cuốn hút và mê đắm lòng người. Bởi lẽ nó được kết tinh từ hàng triệu vị sao tinh tú, của vạn giọt nước trong và của nghìn viên ngọc giữa lòng cuộc sống. Nhà văn chính là người chắt chiu những vẻ đẹp tiềm ẩn, gạn đục khơi trong, đãi cát tìm vàng để sáng tạo nên tác phẩm của mình. Nhưng cái làm nên tầm vóc của nhà văn không phải là sự hoa mỹ về ngôn từ hay quy mô của tác phẩm mà chính là chi tiết – yếu tố đôi khi được coi là nhỏ nhặt, là vặt vãnh trong một tác phẩm lớn. Chi tiết nghệ thuật chính là những yếu tố nhỏ lẻ nhưng mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng của nhà văn. Chi tiết không chỉ là yếu tố cấu thành nên tác phẩm mà còn là nơi gửi gắm những quan niệm nghệ thuật về con người, về cuộc đời. Nhà văn chỉ thực sự là “người thư ký trung thành của thời đại” (H. Balzac) khi anh ta có khả năng làm sống dậy cuộc đời trên trang sách bắt đầu từ những chi tiết nhỏ. Lựa chọn chi tiết để xây dựng nên tác phẩm nghệ thuật không chỉ thể hiện được bản chát sáng tạo của người nghệ sĩ mà còn bộc lộ tài năng, tầm vóc, tư tưởng của người cầm bút. Như vậy, ý kiến của Pauxtopxki cho rằng chi tiết nghệ thuật là linh hồn của một tác phẩm, chi tiết vàng có sức biểu hiện, sức gọi và ám ảnh càng lớn thì càng góp phần nâng cao giá trị và tạo nên những “bụi vàng” óng ánh cho tác phẩm.

See also  Chiếc cặp da của em trông | Bostonenglish.edu.vn

Một bài thơ hay, một câu thơ đặc sắc phải là nơi cất giấu được nhiều chi tiết giá trị. Trong thơ, nhờ chi tiết mà cảm xúc của nhà thơ có nơi nương náu. Đặc thù của thơ là cảm xúc và hình ảnh. Hình ảnh chính là chi tiết trong thơ: một cánh chim, một làm mây, một chiếc lá, một nhành hoa hay một tia nắng đi vào thơ không còn là sự vật vô tri nữa…

Nó là hình ảnh phản chiếu tâm trạng, cảm xúc và suy nghĩ của người cầm bút. Để từ một cảnh huống, một tâm trạng mà thấy được nỗi niềm không chỉ của cá nhân thi sĩ mà của cả một thời đại. Trong cái tận cùng của sự cô đơn, cái rợn ngợp của đất trời, như một thói quen của những con người mang trong mình nhiều tâm sự, người thi sĩ đã gửi gắm nỗi buồn của mình thông qua những chi tiết đắt giá:

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

(Tự tình – Hồ Xuân Hương)

Bạn đang xem bài viết tại: https://bostonenglish.edu.vn/

Cũng như nhiều bậc thi nhân, Hồ Xuân Hương tìm đến rượu với mong muốn mượn cơn say để quên đi thân phận cô đơn, tủi hổ, bẽ bàng, chua sót của chính mình nhưng càng buồn tủi cùng cực khi “say lại tỉnh”, men rượu không thể xoa dịu được số phận hẩm hiu, lẻ mộn của người phữn. Đi hết vòng say tỉnh của men rượu, người thi sĩ lại càng ý thức được sâu sắc hơn nỗi cô đơn của cuộc đời, nỗi buồn ngấm sâu vào tâm hồn không có gì có thể làm vơi bớt được. Chi tiết “say lại tỉnh” giống như một vòng luẩn quẩn của tình duyên khi trăng khuyết vẫn chưa một lần tròn đầy viên mãn. Thông qua những chi tiết mang giá trị cảm xúc cao, người đọc thấy được một con người chơi vơi giữa thế giới mênh mông, hoang vắng và bất lực trước nỗi cô đơn, trơ trọi của chính mình. Từ đó, người đọc thấy được nỗi buồn của thi sĩ không chỉ là nỗi buồn của đêm tàn canh vắng mà còn là nỗi đau nhức nhối, xót xa, bất lực trước thân phận lẻ mọn của chính mình.

Một câu thơ hay phải cất lên từ biển cuộc đời và bay cao từ luồng gió nghệ thuật. Nghệ thuật làm cho thơ trở nên đẹp đẽ, gieo vào lòng người đọc những cảm xúc thẩm mĩ tuyệt vời. Một nhà thơ tài năng phải là một người thợ lặn lành nghề, lặn sâu vào đại dương cuộc sống, không phải để nhặt nhạnh mảnh san hô bình thường mà để tìm kiếm những viên ngọc trai lấp lánh, những “khối tình con”kết từ máu huyết của loài trai nhẫn lại. cần cù. Chi tiết nghệ thuật không phải là thứ phơi bày ra trước mắt người nghệ sĩ mà là thứ ngọc khô cằn trong bàn tay tài hoa của anh. Một người nghệ sĩ sáng tạo sẽ biết cách khai phá được nhiều chi tiết đặc sắc, mang ấn tượng chủ thể riêng. Cảm nhận chi tiết trong thơ không chỉ là đi tìm nhãn tự, giải mã từ ngữ, cắt nghĩa hình ảnh mà cần đặt nó trong sự tương quan với các biện pháp tu từ, cách sử dụng ngôn ngữ, âm, vần, nhịp điệu để khám phá cái hay, cái đẹp của câu thơ. Ta yêu” Truyện Kiều” đâu chỉ vì “Đoạn trường tân thanh” xé ruột cất lên từ quãng đời mười lăm năm lưu lạc, truân chuyên của cánh hoa Thúy Kiều tài sắc. Người Việt Nam yêu “Truyện Kiều” vì những “ngôn từ gấm hoa” giàu sức biểu cảm, vì âm hưởng ca dao dịu dàng, man mác trong câu thơ lục bát thân thương:

“Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Nếu Nguyễn Du không được mệnh danh là “bậc thầy về ngôn ngữ” thì có lẽ truyện kiều sẽ nhàm chán biết bao! Chi tiết được thể hiện thông qua ngôn ngữ, thì văn sẽ hay. Ngôn ngữ của đời thường là một loại quặng còn lẫn tạp chất. Thi sĩ làm công việc của người tình nguyện loại bỏ những tạp chất để đúc kết nên thứ kim loại hoàn hảo hơn, đủ sức óng ánh để phản chiếu tâm hồn. Có những từ là nhãn tự của thơ thì mới có những khổ thơ, bài thơ xuất thần, độc đáo. Nhà thơ làm công việc lựa chọn ngôn từ sao cho đắc ý nhất và mang được ý nghãi sâu sắc nhất. Khi miêu tả Thúy Kiều với đôi ba nét, Nguyễn Du đã dự báo trước số phận của nàng:

“Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Những sinh vật vô tri làm sao có thể “ghen”, làm sao có thể “hờn” trước nhan sắc của con người? Hay phải chăng chính Nguyễn Du đã dự báo trước cuộc đời của Thúy Kiều là mọt cánh hoa “hồng nhan bạc mệnh”? Thi sĩ của chúng ta còn viết

“Bất tri tma bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”

(Độc Tiểu Thanh ky – Nguyễn Du)

Tiếng “khấp” của đại thi hào vĩ đại Việt Nam vẫn còn vang vọng hàng bao thế kỉ, đi giữa lòng người để nói về nỗi đau cuộc đời chất chứa trong tim. Thi sĩ không sử dụng tiếng “khóc” mà lại là tiếng “khấp” tiếng nức nở trong lòng, tiếng nấc xót thương còn vương mãi không nguôi. Nguyễn Du đã để lại cho dời một “tòa lâu đài ngôn ngữ” vô giá, ngôn ngữ làm nên văn chương và văn chương có sức mạnh xoa dịu, phản kháng và tàn phá. Phải trân trọng và biết sử dụng ngôn ngữ thì mới có thể sáng tác và tạo nên những chi tiết “bụi vàng” cho tác phẩm.

Trong tác phẩm “Mấy ý nghĩ về thơ” nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã viết: “Hình ảnh của thơ trái lại, phải là hình ảnh thực nảy lên trong tâm hồn khi ta sống trong một cảnh huống hoặc trạng thái nào đấy. Đụng chạm với hành động hàng ngày, tâm hồn nảy lên bao nhiêu hình ảnh như những tia lửa tóe lên khi búa đập vào sắt trên đe. Người làm thơ lượm những tia lửa ấy, kết nên một bó sáng, nó là hình ảnh thơ.” Một câu thơ hay phải là câu thơ có chiều sâu về hình ảnh, tức là giàu những chi tiết thực đáng giá. Nếu Huy Cận làm thơ với một “cửa lòng đóng khép”, nếu anh không “mở hồn ra đón lấy tất cả những váng động của đời” thì làm gì có một “Tràng Giang” mà mỗi khi nhắc đến người ta đều phải thốt lên:

“Là tràng giang khổ nào cũng dập dềnh sóng nước
Là Huy Cận khổ nào cũng lặng lẽ ưu sầu”
Một “Tràng giang” được cất lên bởi một nỗi sầu mênh mang của sóng nước:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”

(Tràng giang – Huy Cận)

Bạn đang xem bài viết tại: https://bostonenglish.edu.vn/

Huy Cận sử dụng chi tiết cành củi khô “lạc mấy dòng” mà không phải là “trôi mấy dòng” phải chăng đó cũng như tâm trạng của một kiếp người lữ thứ, luôn lạc lõng, bơ vơ bị cuốn trôi theo chiều xoáy của cuộc đời? Cái tôi cô đơn, tội nghiệp của thơ ca lãng mạn đã tìm thấy sự tương đồng của nó trong chi tiết cành củi khô “lạc mấy dòng” của nhà thơ Huy Cận. Chi tiết nghệ thuật làm cho “cái tôi” trong thơ được biểu hiện một cách khái quát. “Cái tôi” xuất hiện mà tận chiều sâu khát vọng của nó mang một ý nghĩa nhân bản sâu sắc, hơn bao giờ hết, con người có thể lắng nghe mọi cung bậc cảm xúc của lòng mình qua thơ ca. “Cái tôi” của Huy Cận buồn ảo não, ngẩn ngơ một nỗi sầu nhân thế, sầu không gian tha thiết. “Cái tôi” của Xuân Diệu sôi nổi, đắm say, rạo rực, tìm ra cái buồn trong cái vui, tìm ra cái đẹp trong sự hắt hiu tàn tạ. “Cái tôi” của Hàn Mặc Tử như điên, như tỉnh, như thực, như mơ, quằn quại, đau đớn và vật vã.

“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”

(Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử)

Không tìm thấy sự hòa hợp ở cõi thực, thi sĩ tìm niềm an uier trong cõi mộng nhưng mộng đẹp cũng chỉ là hư ảo. Trong giây phút xúc động không nói lên lời, Hàn Mặc Tử viết thơ, đưa những trong trẻo, ngây thơ của ánh mắt năm ấy nhìn mình qua khung cửa. Những đau thương bao ngày còn để lại, không vồn vã, không băn khoăn. Giữa những yêu thương ấy, người thi sĩ họ Hàn kia có đau lòng không? Có đau lòng không khi hình ảnh của người con gái ấy giờ đây như lẫn vào sương khói mông lung và hư ảo? Chi tiết “áo em trắng” đã làm cho câu thơ thêm sự cô đơn, một khung cnarh xứ Huế hiện lên mờ mịt, hư ảo, thi nhân như sống trong ảo giác, không phải nhìn bằng mắt thường mà là bằng đôi mắt tâm tư của thi sĩ. Chi tiết “áo em trắng” không chỉ gợi ra một vẻ đẹp rất riêng của xứ Huế mộng mơ, một vùng đất nhiều sương giăng lãng bãng, những tà áo dài trắng của nữ sinh duyên dáng một thời mà dường như với Hàn Mặc Tử, bóng người con gái ấy cứ xa mãi và cuối cùng chỉ còn đọng lại trong tiềm ức. Chỉ cần một chi tiết nghệ thuật nhỏ nhưng nó đã làm cho bài thơ thể hiện rõ một “cái tôi” đau thương và khát khao tình đời, tình người. Trước sau vẫn là là biểu hiện của một tâm hồn yêu đời đến đau thương và tuyệt vọng…

Bàn về tương quan giữa chi tiết và tổng thể, có ý kiến cho rằng: “Chi tiết nghệ thuật đơn thuần là ánh nắng, chói lọi trong giây lát trước mọi ngươi, mà chi tiết nghệ thuật còn là sắc xanh của buổi chiều tà, đọng lại trong lòng người để rồi cứ vấn vương trăn trở”. Câu nói đó đã khẳng định thực tế, chi tiết luôn tác động mạnh mẽ đến nhận thức con người.

See also  Dàn ý Người xưa có câu: "Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều". Anh (chị) hãy nói rõ ý kiến của mình về quan niệm trên - Dàn ý bài làm văn số 5 lớp 11 đề 1 | Bostonenglish.edu.vn

“Trong tác phẩm văn chương, chi tiết có thể nhỏ về quy mô, tầm vóc nhưng nó chứa đựng tư tưởng lớn, tình cảm lớn. Không nhà văn vĩ đại nào nào không tập trung xây dựng hình tượng nghệ thuật từ những chi tiết nhỏ, đặc sắc. Thực tế cho thấy, chỉ bằng những chi tiết cô đúc, tiêu biểu, kết hợp với lối hành văn đầy ẩn ý, nhiều nhà văn đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc bằng những hình tượng nghệ thuật độc đáo, giàu sức biểu cảm.

Trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam, hình ảnh Liên và An ngồi nhìn bầu trời đêm với “ngàn sao ganh nhau lấp lánh” không phải là một chi tiết vu vơ. Thạch Lam xây dựng sự tương quan giữa ánh sáng và bóng tối xuyên suốt trong tác phẩm của mình. Bóng tối nơi phố huyện gợi lên bóng tối ấy hiện lên qua đôi mắt của Liên “ngập dần vào cái buồn của một buổi chiều quê”, qua hình ảnh bà cụ Thi với tiếng cười khuất dần trong đêm tối. Đó còn là bóng tối hiện lên qua hình ảnh mẹ con chị Tý với cái chõng nước và ngọn đèn dầu leo lét. Giữa cái bống tối dày dặc của không gian, của cuộc đời thì một tia sáng nhỏ nhoi cũng trở nên quý giá hơn ai. Cái hay độc đáo trong nghệ thuật thể hiện của Thạch Lam là nhà văn đã dùng ánh sáng để miêu tả bóng tối. Trên trời, ánh sáng xuất hiện với sự lấp lánh của những ngôi sao và những con đom đóm lập lòe. Ở con phố huyện nghèo, ánh sáng hiện lên với ngọn đèn của mẹ con chị Tý, bếp lửa của bác Siêu, những hột sáng lọt ra từ khe cửa của ngôi nhà, Thạch Lam tập trung miêu tả hình tượng bóng tối và ánh sáng xuyên suốt trong tác phẩm của mình đó không phải là một chi tiết vu vơ. Đằng sau nó chứa đựng niềm khao khát rất lớn của hai đứa trẻ, niềm khát khao hướng đến một bầu trời khác, nguồn sáng khác mà không phải là cuộc sống lụi tàn trong vô vọng như ở phố huyện…

Trong tác phẩm văn học, nếu thiếu đi chi tiết, nhà văn sẽ không thể đúc kết nên tác phẩm. Và không có một tác phẩm lớn nào mà chi tiết lại nhạt nhẽo, nông cạn, thiếu sức sống. Trong tiếp nhận văn học, càng không xem nhẹ chi tiết. Mỗi người nghệ sĩ đều có cánh khai thác chi tiết riêng biệt. Nếu Thạch Lam đi tìm và khám phá chi tiết trong cái đẹp đời thường, Vũ Trọng Phụng mổ xẻ một hiện thực cực đoan, Nguyễn Tuân khao khát cái đẹp trong một thời quá vãng thì Nam Cao lại thể hiện và xây dựng chi tiết bằng ngòi bút tỉnh táo và đúng mực. Xuất phát từ hiện đại về con người, hướng tới vẻ đẹp nhân văn đích thực của con người. Truyện ngắn và truyện dài của Nam Cao mạnh dạn đi vào tận cùng các cực đối lập trong nhân tính, tâm hồn của con người. Khi cùng viết về đề tài người nông dân, nhưng ở hai văn khác nhau, hại góc độ khác nhau lại sinh ra những nhân vật và giá trị thẩm mũ khác nhau. Đọc “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, người đọc tiếp cận với một khoảng không gian ngột ngạt, oi bức, nỗi khổ đè nặng trên đôi vai gầy yếu, nỗi đau xé lòng của Dậu dường như đã trở thành nỗi đau tột cùng. Bên cạnh đó, còn có một hình ảnh Chí Phèo, một hình ảnh của sự khốn cùng về người nông dân trong xã hội cũ. Với ngòi bút sắc lạnh nhưng ấm áp tình người, Nam Cao đã thổi hồn cho nhân vật của mình bước ra khỏi trang văn, đến với hiện tại và trở thành một điển hình của nghệ thuật. Viết về cái bi nhưng Nam Cao cũng muốn tô sáng cái đẹp, nếu nhà văn không thương lấy nhân vật của mình thì có lẽ cuộc đời của Chí sẽ không có sự xuất hiện của Thị. Nam Cao xây dựng nên một nhân vật Thị Nở trong tác phẩm của mình đã thể hiện được ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Khi cả làng Vũ Đại không chấp nhận Chí là một con người thì Thị lại chính là người dang rộng vòng tay để đón lấy Chí. Một người đàn bà xấu xí, dở hơi kỳ diệu thay thay lại là một nguồn sáng duy nhất chiếu rọi vào chốn tối tăm nơi tâm hồn Chí để thức tỉnh, để gợi dậy bản tính người nơi Chí, để thắp sáng một trái tim đã ngủ mê qua ngày tháng bị vùi dập, hắt hủi. Nhân Vật Thị Nở được ví như một vị thiên sứ, vị thiên sứ này không có đôi cánh thiên thần nhưng có một đôi tay đầy ắp tình người. Thiên sứ ấy như một ngọn gió, một ngọn lửa thổi vào tâm hồn Chí; nếu là gió, gió sẽ thổi bay lớp tro tàn đang vây quanh Chí; nếu là lửa, lửa sẽ đốt cháy lớp vỏ quỷ dữ để trả lại Chí hình hài một con người… Ngòi bút của Nam Cao bao giờ cũng mạnh mẽ, bao giờ cũng dứt khoát và lạnh lùng, nhưng mấy ai biết được rằng bên trong sự lạnh lùng, dứt khoát ấy vẫn là một tình yêu thương tha thiết đối với nhân vật của mình? Nam Cao xây dựng chi tiết “bát cháo hành” đâu phải là một chi tiết vu vơ, nhà văn phát hiện trong chiều sâu của nhân vật là bản tính tốt đẹp, chỉ cần một chút tình thương chạm khẽ là nó có thể sống dậy mạnh mẽ, tha thiết… “Bát cháo hành” khiến hắn cảm thấy xúc động bởi vì lần đầu tiên hắn được một người đàn bà nấu cho. Hương cháo là hương của cuộc đời, hương của tình yêu mà trước giờ chưa ai cho hắn cả. Hình ảnh “bát cháo hành” là một chi tiết nghệ thuật đặt giá mà Nam Cao xây dựng thành công trong tác phẩm của mình. Bởi lẽ, đằng sau một chi tiết nhỏ nhặt ấy lại chính là sự vị tha và yêu thương tha thiết của nhà văn trước những bản tính tốt đẹp nơi Chí nói riêng và người nông dân bần cùng trong xã hội cũ nói chung.

Bạn đang xem bài viết tại: https://bostonenglish.edu.vn/

Như vậy, chi tiết nghệ thuật phải gắn với quan niệm nghệ thuật và quan niệm nhân sinh của nhà văn. Đối với người đọc khi nhận biết được các chi tiết đắt giá trong tác tác phẩm, chúng ta có thể làm sáng tỏ được ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật, tư tưởng chủ đề của tác phẩm và hiểu rõ ý đồ sáng tạo của nhà văn. Trong truyện nhờ chi tiết mà cốt truyện được triển khai và phát triển đầy đặn, thông qua chi tiết mà cảnh trí, tình huống, tính cách, tâm trạng, hình dáng, số phận của nhân vật được khắc họa và bộc lộ đầy đủ. Nhiều chi tiết trở thành những điểm sáng thẩm mĩ của tác phẩm, có vị trị không thể thiếu trong sự phát triển của cốt truyện, gắn liền với những bước ngoặt trong cuộc đời, số phận nhân vật. Thiếu chi tiết là sự đặc tả, thiếu tính cụ thể, truyện sẽ trở nên hời hợt, thiếu sức hấp dẫn. Tuy nhiên, nếu quá nhiều chi tiết thì truyện sẽ rối rắm, rườm rà, giảm giá trị thẩm mĩ của tác phẩm. Chi tiết gánh trọng trách truyền tải đến người đọc những thông điệp mà nhà văn gửi gắm, những cách nhìn và quan niệm sâu sa về con người và cuộc đời của người nghệ sĩ. Nói người đọc, cảm nhận chi tiết nghệ thuật là mở ra những cánh cửa đầu tiên để đi vào thế giới nghệ thuật của một tác phẩm văn học. Nhà văn sẽ không thể làm nên tên tuổi của tác phẩm tự những chi tiết nghệ thuật nhỏ nhất bởi chân lý trong sáng tạo nghệ thuật luôn là: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”.

Tóm lại, Pauxtopxki đã đưa ra một quan niệm đúng đắn trong nghệ thuật sáng tác. Dù là thơ hay văn xuôi, đều cần phải xây cát từ chi tiết. Theo quy điển hình hóa của nhân vật, qua một giọt sương để thấy cả bầu trời. Nghệ sĩ lớn là người có khả năng chưng cất cả đại dương vào trong giọt nước, để vũ trụ vào trong một sương. Tầm cỡ của nhà văn là khi viết về những vấn đề những cái không đâu, vặt vãnh nhưng khơi gợi được những vấn đề lớn liên quan đến số phận con người, nhân loại nhờ chi tiết. Xin mượn câu nói của nhà phê bình Nguyễn Thanh Tú để đúc kết lại vấn đề rằng: “Nếu một tác phẩm được ví như bóng đèn điện thì các chi tiết được ví như những sợi dây tóc phát sáng. Tác phẩm chỉ có thể sống được nếu nó được xây dựng nên những chi tiết đắt giá”.

Trên đây Bostonenglish hướng dẫn các bạn học tốt bài Văn mẫu lớp 12: Trong tác phẩm một người Hà Nội, vì sao tác giả Nguyễn Khải lại gọi nhân vật bà Hiền là hạt bụi vàng của Hà Nội? Em hãy giải thích điều đó. Ngoài ra các bạn có thể xem thêm chuyên mục Soạn văn 12 mà Bostonenglish đã chuẩn bị để học tốt hơn môn Ngữ văn lớp 12 và biết cách soạn bài lớp 12 và các Tác giả – Tác phẩm Ngữ Văn 12 trong sách Văn tập 1 và tập 2, mời các bạn tham khảo.

Các bài liên quan đến tác phẩm:

Bạn đang xem bài viết tại: https://bostonenglish.edu.vn/

Bostonenglish.edu.vn cũng giúp giải đáp những vấn đề sau đây:

  • Suy nghĩ về câu nói chi tiết làm nên bụi vàng của tác phẩm
  • Chi tiết làm nên bụi vàng của tác phẩm là câu nói của ai
  • Những nhận định về chi tiết trong truyện ngắn
  • Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn
  • Chi tiết làm nên bụi vàng của tác phẩm  của ai
  • Nhận định về chi tiết nghệ thuật
  • Hạt bụi vàng của tác phẩm
  • Bụi vàng là gì
See more articles in the category: Tiếng anh

Leave a Reply